Văn khấn lễ hoá vàng
Dùng vào: Mùng Ba hoặc mùng Bảy Tết, tiễn ông bà.
Trước khi khấn
Còn gọi là lễ tạ năm mới hay lễ tiễn chân. Cúng xong thì hoá vàng ở sân, hoá của gia thần trước, gia tiên sau, mỗi phần để riêng một chỗ cho khỏi lẫn.
Sắm lễ
- Mâm cỗ mặn tiễn chân
- Hương, hoa, trầu cau, rượu trà
- Tiền vàng, mã đã bày mấy ngày Tết
- Hai cây mía để các cụ chống đi đường
Bài khấn
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)
Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.
Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.
Con kính lạy ngài Đương niên, ngài Bản cảnh Thành hoàng, các ngài Thổ Địa, Táo quân, Long Mạch Tôn thần.
Con kính lạy các cụ Tổ khảo, Tổ tỷ, nội ngoại tiên linh.
Tín chủ (chúng) con là: ……
Ngụ tại: ……
Hôm nay là ngày ……. Mấy ngày Tết đã qua, con cháu bày mâm cơm tiễn các cụ, xin phép hoá vàng mã, tạ ơn chư vị Tôn thần, và kính tiễn tổ tiên trở về.
Xin các cụ đi đường thong thả, phù hộ cho con cháu ở lại bình an, cửa nhà thịnh vượng, công việc tiến tới, ai nấy khoẻ mạnh.
Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám.
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)
Sau khi khấn
Hoá vàng xong vẩy vào đống tro một chén rượu cúng, rồi mới hạ mâm.
Trong ứng dụng Lịch dân gian, bài khấn tự điền ngày âm hôm nay, tên tín chủ và chỗ ở vào đúng chỗ trống, phóng chữ to ba nấc và đọc được cả khi mất mạng.
Bài khấn cùng nhóm “Cuối năm & Tết”
- Văn khấn ông Công ông Táo — Hăm ba tháng Chạp, tiễn Táo quân về Trời
- Văn khấn lễ tất niên — Chiều ngày cuối năm, trước bữa cơm tất niên
- Văn khấn giao thừa ngoài trời — Đúng giờ Tý đêm trừ tịch, mâm đặt ngoài sân
- Văn khấn giao thừa trong nhà — Ngay sau lễ ngoài trời, tại ban thờ gia tiên
- Văn khấn gia tiên sáng mùng Một Tết — Sáng mùng Một, lễ Nguyên đán
- Văn khấn Rằm tháng Giêng — Tết Nguyên tiêu, rằm tháng Giêng